 |
| Nhà văn Lý Lan | (CAO) Sách được thể hiện dưới hình thức nghệ thuật văn xuôi (thể loại Tùy bút) nên cảm xúc chính là thật. Nhà văn Lý Lan đã ghi lại những quãng đời từ khi còn ấu thơ đến khi trở thành một nhà giáo, nhà văn và gần đây nhất là dịch giả bộ “Harry Potter” nổi tiếng và hiện là Thạc sĩ văn chương tại Mỹ.
Miên man không phải ở sự sắp đặt, nó như dạng một tự truyện, một hồi ký được thu nhỏ lại. Lý Lan nhắc nhớ những ký ức mà chị đã trải qua. Vừa mở trang sách, chị đã “thông báo”, rằng:
“Cái này không phải là tự truyện" nhưng cứ đọc “Miên man tùy bút”, NXB Văn Nghệ, tháng 9-2007,(tái bản lần hai) với 250 trang viết sẽ thấy rõ nhân vật chính không ai khác, đích thị Lý Lan.
Chị mồ côi mẹ từ sớm, ở với bà ngoại: “Ở quê tôi, người ta sống bằng nghề làm vườn, làm rẫy hay làm đồ gốm. Trong làng, duy nhất có một người bán quán. Chợ thì xa nên con nít thường được sai chạy ra quán mua xị nước mắm, gói bột ngọt, ống chỉ hay viên thuốc nhức đầu.
Quán đương nhiên có bán cả bánh kẹo, đồ chơi. Thường thường, có một đám trẻ con chơi dưới tán cây vú sữa trước quán. Một hôm, tôi còn đang mải mê chơi nhảy lò cò thì thằng nhỏ gần nhà chạy ra nói:
- Về đi! Má mày chết mà mày còn lo chơi.
Tôi hớt hải chạy về nhưng chẳng bao giờ kịp nữa.
Sau khi mẹ mất, tôi sống với bà ngoại, lúc nào cũng thắc thỏm sợ ngoại lại bỏ tôi đi lúc tôi đang mê chơi, mê ăn hay mê ngủ. Tôi không ra quán chơi nữa, lúc nào cũng lẽo đẽo theo chân bà.
Vườn nhà ngoại không rộng, trồng mít, sầu riêng, măng cụt, cau, chuối... mỗi thứ vài cây. Tới mùa trái chín, thường có lái tới mua sỉ cả vườn, nhưng bà ngoại tôi cần kiệm, tự mình hái trái trong vườn đem ra chợ xa bán để được giá hơn.
… Ít lâu sau, ba tôi đón tôi về Sài Gòn cho đi học. Đang lúc tôi còn học đại học thì bà ngoại qua đời. Suốt đời, bà không hề biết một chữ i tờ nào. Nhưng bà đã dạy tôi bài học hay nhất mà tôi ôn đi ôn lại suốt đời mình”.
Và chính quê mẹ đã sản sinh ra một nhà văn, vì: “Quê mẹ và tuổi thơ ở quê là mạch nước ngầm của đời tôi. Khi nào khát tình cảm, khát đề tài, khát cảm hứng, thì tôi lại tìm về cái mội nước ấy.
Ở quê tôi người ta gọi nơi nước ngầm trào lên là cái mội nước. Tôi viết về quê tôi, kể về quê tôi, từ ký ức tôi mang theo khi xa quê. Ở thành phố, ở xứ người, quê nhà trong tôi hoà quyện cả hồi ức lẫn tưởng tượng”.
Cuộc đời của nhân vật chính trôi nổi với tháng ngày ở Sài Gòn cùng người cha, khi cô hãnh diện với áo dài tím của cô nữ sinh Gia Long (nay là trường Nguyễn Thị Minh Khai, Q.3, TPHCM).
Người cha rất đỗi thương con đến bình dị: “Mỗi ngày tôi phải ngồi coi quầy thuốc lá vài tiếng đồng hồ cho ba tôi đi lấy hàng, đi chợ, và chạy về nhà nấu nồi cơm cho các con có ăn trong ngày… Ba tôi vừa chạy ăn từng bữa ngoài đường, vừa lo việc cơm nước giặt giũ và chăm sóc con cái”.
Cái mặc cảm của cô nữ sinh vì hoàn cảnh gia đình, về người cha, mà: “tôi còn vô tâm lắm, không biết nghĩ đến cha và em, chỉ biết xấu hổ khi ngồi sau quầy thuốc lá, nên lấy cớ đi học để trốn việc. May mắn lớn nhất đời tôi là ba tôi thương con và quí trọng việc học… trong khi tôi xấu hổ về người cha hoàn toàn không biết đọc viết chữ Việt, thậm chí nói năng cũng không trôi chảy.
Tôi cố giấu bạn bè gốc tích của mình, và thầm mơ ước mình là con của ông đại tá, hay ông bác sĩ, hay có mẹ là giáo sư như đứa bạn ngồi trước mặt tôi”.
|
Lý Lan học khoảng một năm ở trường làng, nửa năm ở trường Trung Chánh, và học hết tiểu học ở trường Chợ Quán, trung học ở trường Gia Long, đại học ở trường Sư Phạm thành phố Hồ Chí Minh, và cao học (M.A.) Anh văn ở đại học Wake Forest (Mỹ). Từ năm 1980 Lan bắt đầu dạy ở trường trung học Cần Giuộc (Long An), năm 1984 chuyển về trường trung học Hùng Vương (thành phố Hồ Chí Minh), năm 1991 chuyển qua trừơng trung học Lê Hồng Phong, năm 1995 sang dạy ở đại học Văn Lang đến năm 1997 thì nghỉ dạy hẳn. Truyện ngắn đầu tay của Lý Lan là ‘Chàng Nghệ Sĩ’ in trên báo Tuổi Trẻ và được giải thưởng (năm 1978). Lan tiếp tục viết và đăng truyện trên báo Tuổi Trẻ, Văn Nghệ Giải Phóng, Khăn Quàng Đỏ.
Tập truyện ngắn đầu tay Cỏ Hát (in chung với Trần Thùy Mai) xuất bản năm 1983 (nhà xuất bản Tác Phẩm Mới, Hà Nôi). Tập truyện thiếu nhi Ngôi Nhà Trong Cỏ (NXB Kim Đồng, Hà Nội, 1984) được giải thưởng văn học thiếu nhi của hội Nhà Văn Việt Nam. Tập thơ Là Mình (NXB Văn Nghệ, TP HCM, 2005) được giải thưởng thơ hội Nhà Văn TP HCM. Các tác phẩm khác đã xuất bản: Nơi Bình Yên Chim Hót (NXB Cà Mau, Cà Mau, 1986)
Chút Lãng Man Trong Mưa (NXB Trẻ, TP HCM, 1987)
Hội Lồng Đèn (NXB Kim Đồng, Hà Nội, 1991)
Chiêm Bao Thấy Núi (NXB Trẻ, TP HCM, 1991)
Truyện (in chung với Nguyễn Thị Minh Ngọc và Nguyễn Hải Chí, NXB Văn Nghệ, TP HCM, 1992)
Những Người Lớn (NXB Kim Đồng, Hà Nội, 1992)
Mưa Chuồn Chuồn (NXB Kim Đồng, Hà Nội, 1993)
Chân Dung Người Hoa (NXB Văn Hoá, Hà Nội, 1994)
Đất Khách (NXB Văn Nghệ, TP HCM, 1995) Bí Mật Của Tôi và Thằn Lằn Đen (NXB Trẻ, TP HCM,1996)
Lệ Mai (NXB Văn Nghệ, TP HCM, 1998) Thơ (in chung với Thanh Nguyên và Lưu Thị Lương, NXB Văn Nghệ, TP HCM, 1998) Sài Gòn Chợ Lớn Rong Chơi (NXB Văn Nghệ, TP HCM, 1998)
Khi Nhà Văn Khóc (NXB Văn Nghệ, TP HCM, 1999)
Dặm Đường Lang Thang (NXB Văn Nghệ, TP HCM, 1999)
Dị Mộng (NXB Trẻ, TP HCM, 2000)
Quán Bạn (in chung với Thanh Nguyên, Lưu Thị Lương và Chim Trắng, NXB Trẻ, TP HCM, 2001)
Một Góc Phố Tàu (NXB Văn học, Hà Nội, 2001)
Ba Ngừơi và Ba Con Vật (NXB Kim Đồng, Hà Nội, 2002)
Là Mình (NXB Văn Nghệ, TP HCM, 2005) Người Đàn Bà Kể Chuyện (NXB Văn Nghệ, TP HCM, 2006)
Miên Man Tùy Bút (NXB Văn Nghệ, TP HCM, 2007)
Tiểu Thuyết Đàn Bà (NXB Văn Nghệ, TP HCM, 2008)
| Ai trong đời cũng có những “mặc cảm”, những lỗi ấy tuy là sự ích kỷ cá nhân nhưng đáng tha thứ, kiểu cô bé Lý Lan đã suy nghĩ bằng cách viết thư:
“Ba thoạt đầu không hiểu là con ngượng với bạn bè về ba. Ba không trộm cắp hay ăn xin, cũng không mua gian bán dối, không hề làm điều gì hại ai, chỉ cần cù lương thiện mà nuôi con ăn học… mai mốt ba sẽ không đẩy xe đến bán trước cổng trường của con nữa. Chẳng qua ba rất tự hào về con, nghèo khó mà học giỏi, và tưởng con cũng tự hào về ba, dù nghèo khó vẫn lương thiện”.
Hình ảnh “gà trống nuôi con” để con nên người thật cảm động birết bao. Càng cảm động hơn khi con thi vào đại học, người cha dõi theo báo chí để “lõm bõm” đọc tên con trúng tuyển:
“Ba tôi mới bốn năm giờ sáng ra đứng ở đầu ngõ chờ người bán báo đi lấy báo về để dò danh sách thí sinh trúng tuyển, đăng trong báo Tin Sáng. Ông đứng ngay dưới cột đèn đường dò những dòng chữ li ti vốn không phải là tiếng mẹ đẻ của ông…
Tôi đoạt tờ báo trong tay ông, mở ra, liếc ngay xuống vần L và thấy ngay tên tôi. Tôi la lên một tiếng gì đó, ba tôi giựt lại tờ báo và tròng mắt ông đứng ngay dòng chữ tên tôi hàng mấy phút, rồi một nụ cười làm giãn nở gương mặt ạm đen nắng gió của ông. Ngay lúc đó tôi biết là nét rạng rỡ ấy trên gương mặt ba tôi sẽ mãi mãi là ánh sáng soi đường tôi đi sau này”.
Ấy là những trang viết về gia đình, ngoài ra còn có những ký ức với một dòng sông, một cây cầu như cây cầu trong “Qua Bắc Mỹ Thuận”, chỉ một chi tiết khiến người đọc lâng lâng cảm xúc:
“… Lời mời cuối là của một thằng bé trắng bóc. Nó bưng một cái rổ đựng chừng chục ổi đến bên cạnh tôi, rụt rè nói như năn nỉ.
Trông nó không giống tất cả những đứa trẻ thường bán quà vặt trên bến bắc này.
Nó giống một công tử vườn, năm khi mười họa mới có việc ra đường, đội mũ đeo găng, mang vớ hẳn hoi. Nếu không thì làm sao giữa cái nắng chói chang này mà da nó trắng mịn màng như vậy? Tôi rất tò mò nên dọ hỏi:
-Bao nhiêu một chục, em ?
-Chị cho xin ba ngàn
-Mắc quá. Thằng bé kia bán có hai ngàn.
-Ổi của em lớn hơn mà.
-Một chục mười bốn hay mươì hai?
-Mười bốn.
-Ổi nhà em hái bán à?
-Em đếm lại của người ta.
-Nhà em không trồng ổi hả?
-Không. Không có vườn.
-Ba má em làm gì ?
Thằng bé ngước mắt nhìn tôi. Một nỗi ân hận dâng trong lòng, nhưng tôi không kịp sửa chữa. Đôi mắt trẻ con đó như trách tôi sao nỡ dồn nó tới chân tường. Rồi khi mí mắt nó cụp xuống, nước mắt cũng đồng thời ứa ra. Tôi áy náy bảo:
-Em đếm cho chị một chục.
Nó đặt rổ ổi xuống đất, lấy một bao ny lông, vò miệng bao để tách hai lớp ni lông dính chặt quá không mở ra được. Tôi nhìn hai bàn tay nhỏ bé vụng về, có một vết mực tím dính ở ngón tay giữa của bàn tay phải. tôi lại hỏi:
-Em học lớp mấy?
-Dạ lớp sáu.
Tôi có rất nhiều câu hỏi để hỏi thêm, nhưng sợ thằng bé lại khóc nữa, nên chỉ đứng nhìn nó bỏ ổi vô bao”.
Chị đã “chạm nhẹ” vào một nỗi buồn của đứa bé mồ côi, nhưng hành động “thối lại tiền” của em cũng làm cho chúng ta cảm mến hơn là tội nghiệp.
Cũng là cây cầu nhưng kỷ niệm của chị là nỗi niềm hoài cổ mà ai trong chúng ta cũng nuối tiếc khi: “Từ hồi nào đến giờ hai chữ Mỹ Thuận đi liền với chữa bắc. Bắc Mỹ Thuận. Đến nỗi hồi mới nghe nói "cầu Mỹ Thuận” thấy lạ lạ tai.
“Bà con ơi xuống xe đi bộ qua cầu Mỹ Thuận”.
Mặc dù đó là chủ định ban đầu, là sự chuẩn bị từ lúc hai trụ cầu cao xuất hiện ở xa xa, mà khi nghe những người đồng hành rao lên, tôi vẫn không đừng xúc động. Từ nay, xe qua cầu Mỹ Thuận, chứ không còn qua bắc Mỹ Thuận nữa. Thôi nhé, những chiếc bắc sẽ dời về bến Cần Thơ, phập phồng đợi cái ngày mà sông Hậu cũng được bắc cầu, để vào viện bảo tàng ôn lại một thời bi hài kịch ngỗn ngang.
Bến bắc từ nay vắng vẻ, kể cũng buồn: không còn tiếng chào mời xoài cát Hòa Lộc, nem Lai Vung, cam Cái Bè, bánh phồng tôm Sa Đéc; không còn gã hát rong dạo cây ghi-ta phím lõm hát về mối tình anh bán chiếu; cũng không còn cơ hội để cho anh công tử miền Tây tán tỉnh cô đầm Duras.
Những chiếc bắc lừ lừ trôi qua dòng sông mênh mang ấy là nơi gần như duy nhất có thể xảy ra cuộc gặp gỡ tình cờ của một người đi xe hơi có sốp-phơ riêng với một người đi xe đò chen chúc những gióng gánh, gà vịt. Qua bắc, ai cũng phải xuống xe, sang hay hèn cũng phải đi chung chuyến bắc, cùng đứng nhìn lục bình trôi man mác về phía trời nước giáp mí xa xa, khó gì câu chuyện làm quen?
Cho dù lên bắc rồi, người có thể rẻ về Sa Đéc, người có thể qua Vĩnh Long, hay đi thẳng xuống Cần Thơ. Nhưng thời gian chiếc bắc nối hai bờ sông Tiền cũng đủ bắt đầu những mối tình lãng mạn.
Với chút lãng mạn, tôi rủ bạn bè đi chơi Bảy Núi một ngày trước ngày chính thức thông cầu, để còn qua kịp chuyến Bắc Mỹ Thuận cuối cùng, rồi hôm sau quay về Sài Gòn thì sẽ trở thành những người đầu tiên qua cầu Mỹ Thuận”.
Thời còn con nít người viết bài này cũng “nghiện” đọc sách, không có triền cũng đi coi cọp. Giờ đọc những trang viết về “coi sách cọp”: “…Ừ, chẳng phải có kẻ cổ xuý khai tử văn chương: trong tương lai - cả bây giờ - ta đã có đủ các hình thức giải trí nghe nhìn, thì dù không còn văn chương nữa cũng chẳng lo ai buồn. Thì đúng vậy, không có văn chương thì làm sao thấm thía một nỗi buồn hay thăng hoa một niềm vui?”.
Còn và còn nhiều tâm trạng, nỗi niềm của người con xa quê, của một gốc tích về quê cha – người Hoa. Và cũng có những cái nhớ miên man về người… dưng.
Đọc “Miên man tùy bút” của Lý Lan tôi chợt nhớ đến tên sách trùng với tập sách tùy bút của nhà văn Đỗ Chu. Dẫu sao những đêm mưa đầu mùa ở Sài Gòn ôm tập sách của Lý Lan mà “miên man” đọc rồi đâm buồn. Vì sao. Vì thấy một tí gì trong trang sách có hình ảnh của chính mình, của cả bạn và của tất cả chúng ta.
|